Mời xem hình: Du lịch Nhật Bản
Nhật Bản là nước có đẳng cấp cao nhất châu Á và cũng có nhiều đòi hỏi khắt khe khi nhập cảnh. Nhưng dù khó tính, nó vẫn không làm giảm số người Việt kéo đến xứ Mặt Trời Mọc để làm việc, học tập, sinh sống, du lịch… Tôi cùng một số đồng nghiệp có chuyến du lịch Nhật Bản từ ngày 29/7/2026 đến 02/8/2026. Thời gian 5 ngày, chỉ đi được vài tỉnh thành có những khu du lịch tiêu biểu. Đây là dịp để đem những hiểu biết về Nhật Bản qua sách vở lâu nay đối chiếu với thực tế. Và nhân tiện, nhìn xứ người mà suy ngẫm đến xứ ta.
1. Cảnh quan du lịch
Nhật Bản có diện tích rộng hơn Việt Nam. Nước này bao gồm 6.852 hòn đảo. Nhưng người Việt sang Nhật không phải để ngắm biển đảo, vì Việt Nam đã có bờ biển rất dài rồi. Và những điểm du lịch biển đảo của Nhật Bản cũng không hấp dẫn bằng núi rừng. Quả núi thu hút nhiều du khách nhất là Phú Sĩ (Fuji). Ngọn núi lửa này cao 3.776 mét, đứng thứ 7 trên thế giới. Thực ra, nó chẳng là gì so với đỉnh Everest thuộc Himalaya (8.848 mét). Và nó chỉ nhích hơn một chút so với đỉnh Fansipan của Việt Nam (3.143 mét). Đỉnh Fansipan không nổi bật lắm vì nó đứng chung thành chùm với nhiều quả núi anh em trong dòng họ xóm làng. Còn Phú Sĩ đứng riêng một mình nên nó mới kiêu hãnh: Ta là Thứ Nhất (so với Nhật Bản). Ngoài ra, núi Phú Sĩ còn có diện mạo riêng bởi trên đầu thường đội cái mũ màu trắng tuyết. Nhưng khi chúng tôi đến đây, cái mũ đó biến mất dưới ánh nắng chói chang. Thông thường, du khách không lên tới đỉnh núi mà chỉ đứng ngắm nó từ các khu lân cận.
Ngày đầu tiên đến Nhật Bản, chúng tôi nghỉ đêm ở một nhà hàng – khách sạn nhỏ gần núi Phú Sĩ (cách thủ đô Tokyo khoảng 100 km). Đêm đó, được ăn món “chân cua tuyết” khổng lồ. Sáng mai, mở cửa sổ, cảm nhận được hương vị tinh khiết của núi rừng. Sau đó, xe đưa đoàn đến làng cổ Osino Hakkai. Ngôi làng này có một ngôi đền và nhiều ngôi nhà theo kiến trúc cổ ở nông thôn xưa. Có nhiều cái hồ nhỏ, nước chảy ra từ các mạch nước ngầm được lọc bởi dung nham núi lửa. Nước mát lạnh và có hương vị riêng, thích hợp cho món trà đạo. Khi uống, phải lấy cái gáo múc nước đổ ra lòng bàn tay chứ không thò tay vào dòng nước thiêng. Người ta quan niệm, uống nước này sẽ gặp nhiều may mắn, tăng tuổi thọ. Xe đưa chúng tôi lên núi Phú Sĩ và dừng lại ở trạm 5. Nơi đây, cũng có những ngôi đền hướng mặt về núi Phú Sĩ. Trên bãi cỏ xanh, du khách tha hồ tung tăng đứng ngồi đủ kiểu để chụp những bức ảnh có hình núi Phú Sĩ đứng vững chãi sau lưng. Và nhiều khi, cũng nổi lên cái cảm giác ta là Phú Sĩ. Nhân chuyện chụp ảnh, nói thêm điều này nữa: Hóa ra, hãng sản xuất thiết bị phim ảnh Fujifilm vốn rất quen thuộc là lấy tên từ núi Phú Sĩ (Fuji). Và còn rất nhiều thương hiệu khác cũng ăn theo danh tiếng của ngọn núi này.
Một cảnh quan thiên nhiên cũng thu hút khá nhiều khách du lịch là Rừng tre Sanago. Điểm du lịch này nằm trong một quần thể có có nhiều khu di tích và cảnh quan thiên nhiên. Ở đây, có một dãy núi chạy dọc theo sông Katsura, có những rừng cây thay đổi màu sắc theo mùa. Bắc qua sông là cây cầu cổ Togetsukyo (Cầu vượt mặt trăng) được xây dựng cách đây hơn 1000 năm. Du khách đi dạo khu phố cổ và thăm chùa Tenryu-ji, công viên khỉ, ngắm các biệt thự, căn nhà theo kiến trúc truyền thống… Điểm quan trọng nhất của khu du lịch Arashiyama là Rừng tre Sanago. Trong rừng, có một con đường dài 600m, hai bên có hàng rào, quang cảnh sạch đẹp. Ngoài ra, còn có vài đường mòn nhỏ dành cho những chiếc xe kéo chở khách du lịch xuyên rừng. Đi dạo trong rừng tre, ta được hít thở không khí trong lành, cảm nhận cuộc sống yên bình. Đến đây, tôi cũng nghĩ đến lũy tre nơi tôi sinh ra: làng đan Vinh Ba, Tuy Hòa Tây. Trước đây, trong thôn có lũy tre dày đặc, rợp bóng mát và làm tối om cả đường làng vào ban đêm. Tre mọc thành bụi rậm lộn xộn, tự nhiên, thò những cành gai nhọn đâm ra ngoài. Trong khi vườn tre ở Sanago mọc riêng thành từng cây, tách rời. Cả hàng ngàn cây tre ít lá, như mũi giáo chĩa thẳng lên trời tạo cảm giác rợn ngợp.
Ở xứ Phù Tang, chế độ vua chúa tồn tại suốt từ thời xa xưa cho đến bây giờ. Bởi vậy, không có phong trào chửi bới vua chúa, đập phá di sản. Những công trình của tổ tiên xây dựng đều được các thế hệ con cháu giữ nguyên vẹn với tấm lòng thành kính. Ngày nay, Nhật Bản có vô số công trình cổ xưa được công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp quốc tế, quốc gia… Một trong những công trình như thế là lâu đài Osaka, được xây dựng vào thế kỷ XVI và sau này được trùng tu nhiều lần. Người có công đầu trong việc xây thành này là lãnh chúa Toyotomi Hideyoshi, một võ sĩ đạo thuộc tầng lớp quý tộc. Điểm đáng chú ý là bức tường thành được xây bằng những viên đá khổng lồ được khai thác, vận chuyển từ những vùng xa xôi. Xung quanh thành là hào sâu, giống như dòng sông nhỏ. Bên trong thành còn có vườn thượng uyển. Lâu đài Osaka giống như một cung điện thu nhỏ, phản ánh tình trạng cát cứ của các lãnh chúa phong kiến trước khi hợp nhất thành một nước Nhật Bản rộng lớn như ngày nay. Ngoài ra, du khách còn có thể tham quan các di vật cổ trong viện Bảo tàng Tokyo. Khu bảo tàng có nhiều tòa nhà lớn. Do thời gian không cho phép, chúng tôi chỉ đi thăm tòa nhà chính, nơi trưng bày các cổ vật thời xa xưa.
Bên cạnh các công trình cổ điển, Nhật Bản cũng có nhiều công trình hiện đại thu hút khá nhiều khách du lịch. Chẳng hạn như tháp truyền hình Tokyo Skytree. Công trình này được khánh thành năm 2012 và được ghi nhận là tháp truyền hình cao nhất thế giới (634 mét). Skytree có 450 tầng và tích hợp nhiều chức năng. Ngoài chức năng truyền hình, phát thanh, nó còn là nơi nghiên cứu khí tượng, có tác dụng giảm mức độ rung của động đất (vì nặng 36.000 tấn). Du khách có thể ngắm toàn cảnh thành phố vào ban ngày và dùng đài quan sát vũ trụ vào ban đêm. Hai đài quan sát có thể chứa 2.900 người. Nghe nói trong các tầng tháp còn có các trung tâm ăn uống, mua sắm, giải trí đủ kiểu loại khác nhau. Đó là “nghe nói”, còn muốn nhìn tận mắt thì phải mua vé với giá khá cao và phải mất khá nhiều thời gian để đi hết các tầng. Đoàn chúng tôi chỉ đứng chụp hình bên ngoài tháp.
Về kiến trúc nhà cửa, Nhật Bản cũng có vài nét khác với Việt Nam. Ở nông thôn, có khá nhiều ngôi nhà gỗ, mái ngói màu đen nâu. Trong khi nông thôn Việt Nam phổ biến nhà có tường gạch, mái ngói màu đỏ hồng. Ở các làng miền núi Nhật, trên mỗi mái nhà thường lắp kính năng lượng mặt trời. Có thể do ở Nhật Bản ít công trình thủy điện. Và chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện cho người dân sử dụng năng lượng mặt trời. Ở các khu phố cổ, chẳng hạn như cố đô Kyoto, những căn nhà theo lối cổ vẫn còn khá nhiều. Trong khi đó, ở cố đô Huế, rất khó tìm ra những ngôi nhà cổ. Nhật Bản là nước có tốc độ hiện đại cao nhưng người dân vẫn có ý thức bảo lưu truyền thống. Đúng như phương châm: “Kỹ thuật phương Tây, tinh thần Nhật Bản”. Một lý do nữa làm cho người ta chuộng những ngôi nhà gỗ thấp là để khỏi bị thiệt hại nặng khi có động đất. Ở thành phố, những ngôi nhà lầu cao tầng thường đứng cách nhau vài gang tay. Sở dĩ làm vậy là để khi có động đất, rung lắc thì không bị thiệt hại nhiều. Trên sân thượng các ngôi nhà lầu, thường có các giàn ăng ten kiểu cũ. Đó là loại ăng ten làm bằng ống nhôm, từng phổ biến ở nông thôn Việt Nam những năm 1990. Nhưng nay, người Việt đã vứt hết rồi. Vậy mà nó vẫn hiện diện trên các ngôi nhà cao tầng ở thành phố Nhật Bản. Có người giải thích rằng, nhiều người già vẫn thích coi tivi kiểu cũ, miễn là bền. Họ rất giàu nhưng vẫn cứ chuộng những hình ảnh truyền thống.
2. Lịch sử – Kinh tế
Nhật Bản đã đi đầu châu Á trong việc hiện đại hóa. Vào giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản tiếp xúc với phương Tây và nhận thấy mình bị thua kém quá xa. Thay vì đóng cửa cố thủ để giữ ngai vàng, Thiên hoàng Minh Trị đã mở tung cánh cửa cho thanh niên sang châu Âu học tập. Du học sinh Nhật cũng đặt Tổ quốc lên trên những cám dỗ của văn minh phương Tây. Họ tìm mọi cách để đem kỹ thuật phương Tây về quê hương. Nhật Bản trở thành nước có tốc độ phát triển nhanh nhất châu Á. Trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật năm 1905, thế giới chứng kiến lần đầu tiên, anh võ sĩ da vàng thấp bé chiến trắng anh đế quốc da trắng cao to, mũi lõ. Tin ấy làm nức lòng các chí sĩ Việt Nam. Phong trào Đông du được phát động bởi những nhân vật nổi tiếng như Cường Để, Phan Bội Châu… Các nhà cách mạng này muốn dựa vào Nhật để đánh Pháp. Nhật cũng muốn đánh đuổi người da trắng ra khỏi châu Á và thiết lập liên bang Đại Đông Á (dĩ nhiên, do Nhật đứng đầu, cũng giống như Liên bang Nga). Những năm 1930, tiềm lực kinh tế của Nhật cũng gần ngang ngửa với các đế quốc già cỗi như Anh, Pháp. Nhưng thị trường của Nhật còn hạn hẹp. Cho nên, Nhật bắt tay với các đại gia mới nổi như Đức, Ý làm cuộc chiến tranh để chia lại thị trường thế giới.
Tháng 9 – 1940, Nhật vào Đông Dương và tạm hòa hoãn với Pháp để cùng cai trị Việt Nam. Một tháng sau, Phan Bội Châu qua đời ở Huế. Có thể ông không được phép tiếp cận thông tin và cũng có thể đã nghe ai đó nói nhưng tai người già thường nghễnh ngãng. Nhật không sử dụng Cường Để mà bắt tay với Bảo Đại. Thế là công sức của các nhà cách mạng trong phong trào Đông Du tan thành mây khói. Trong 5 năm có mặt tại Đông Dương, Nhật cũng tạo ra được một tầng lớp người thân Nhật, có quyền lợi gắn bó với Nhật. Giấc mơ làm chủ châu Á của Nhật tưởng chừng có thể thực hiện được nếu không có một sự kiện gây tranh cãi… Năm 1941, Nhật bất ngờ tấn công Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ ở Trân Châu cảng. Phía Mỹ bị thiệt hại quá nặng nề: 2.400 lính thiệt mạng, 230 máy bay bị phá hủy, 8 tàu chiến bị chìm hoặc hư hỏng. Mỹ rời bỏ vị trí trung lập mà đứng hẳn về phe Đồng Minh để đánh Nhật. Ở Đông Dương, Nhật vội vàng hất cẳng Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho vua Bảo Đại. Tháng 4-1945, Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Nhiều người kỳ vọng Việt Nam sẽ có chế độ Quân chủ lập hiến như Nhật, Anh… Nhưng Chính phủ Trần Trọng Kim còn quá non trẻ và chưa làm được gì trước phen sóng gió ba đào. Lúc này, Mỹ đang ráo riết đánh Nhật ở khắp các nước châu Á. Đánh thắng Nhật ở nước nào, Mỹ cũng lật đổ chính phủ thân Nhật ở nước đó. Thấy Nhật vẫn chưa chịu đầu hàng, Mỹ thả thêm hai quả bom nguyên tử. Nhật hoàng chịu đầu hàng và giải tán quân đội. Từ đây, Nhật chỉ còn lo đầu tư phát triển kinh tế.
Trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, một số quyền lợi của Nhật vẫn được đảm bảo ở các vùng do Bảo Đại quản lý. Hàng hóa của Nhật vẫn nhập cảng Hải Phòng và Sài Gòn. Sang chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, Nhật vẫn giữ mối quan hệ giao thương với Nam Việt Nam. Trong giai đoạn 1955 – 1965, đại gia Pháp vừa rút đi, đại gia Mỹ chưa vào, trong khoảng trống hụt hẫng đó, việc chơi với đại gia Nhật cũng cần thiết, để có thể tựa vào một bờ vai. Hàng hóa Nhật tràn ngập thị trường Việt Nam giai đoạn này. Thanh niên Việt Nam sang Nhật du học ngày càng đông. Nhật Bản cũng đào tạo cho Việt Nam rất nhiều kỹ sư trong mọi lĩnh vực, trong đó có những chuyên gia hàng đầu về Nông học. Sau khi Việt Nam mở cửa, các công ty Nhật cũng nhanh chân nhảy vô Việt Nam. Hàng hóa Nhật có mặt trên thị trường Việt Nam đủ mọi chủng loại. Ngay cả những thứ không ngờ tới như gạo. Nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng 1/100 trong kinh tế Nhật hiện nay. Nhưng nó là ngành nông nghiệp có võ, khiến nhiều gã khổng lồ về lúa gạo như Việt Nam phải e dè. Gạo của Nhật hoặc gạo lai giống Nhật có chỗ đứng trong các siêu thị Việt Nam. Cơm gạo Nhật có hương vị riêng, khi ăn, có thể làm ta nghẹn khi nhớ đến gạo Việt thời bao cấp. Thời sinh viên, nhiều người đã từng ăn gạo hẩm, tồn kho lâu ngày, ăn xong, bị phù thũng. Ngày nay, nhiều người miền Trung không ăn gạo sản xuất ở quê mình. Và loại gạo này chở đi bán ở đâu không rõ… Nhiều người dùng gạo nấu cháo cho bò ăn rồi bắt bò đứng im quanh năm trong chuồng. Còn lâu thịt bò Việt mới sánh nổi với thịt bò Wagyu của Nhật (là loại thịt bò cao cấp nhất thế giới). Đó là nói về nông nghiệp, còn về công nghiệp, ai cũng biết Nhật mạnh tới cỡ nào. Tên tuổi các tập đoàn công nghiệp, tài chính lớn của Nhật cũng trở nên quá quen thuộc với người Việt: Sony, Canon, Panasonic, Lexus, Toyota, Yamaha, Nissan, Suzuki, Mitsubishi, Honda…
Tôi xin kể vài kỷ niệm về xe máy Nhật. Những năm 1960, xe máy Nhật tràn vào Việt Nam. Loại xe máy sử dụng lâu bền nhất là Honda. Và các hãng xe máy khác cũng được gọi chung tên là xe “hông đa”. Khoảng 1970, xe Honda 67 tràn về nông thôn. Nhiều thôn nữ tuyên bố, chỉ tiếp các anh trai đi xe máy, không tiếp xe đạp. Nhưng sau 1975, xăng dầu khan hiếm, xe máy bị xếp vô xó. Thỉnh thoảng, khi có việc quan trọng và đi xa mới lấy ra dùng. Khi xe hư cũng khó tìm chỗ sửa. Những người trẻ không thạo đi xe máy nên mới sinh ra nhều chuyện bi hài. Về việc này, tôi có tổng hợp tư liệu và viết thành bài “Tại chiếc Honda 67” đăng trên phamngochien.com năm 2010. Chiếc xe máy đầu tiên mà tôi tập lái là Honda 67 (mượn của cậu và chú). Khoảng 1988 (lúc tôi học lớp 10, 11), gia đình tôi mới mua được chiếc xe máy hiệu Honda Cub cánh én. Hồi đó, xe máy đời mới còn hiếm. Thấy tôi có vẻ hãnh diện, có người nói chọc tức: “Xe máy Nhật bỏ bãi chớ gì”. Nghe nói từ “bỏ bãi”, bỗng cảm thấy mình bị mất giá. Người Nhật đi xe máy đến một niên hạn nào đấy thì không sử dụng nữa. Họ lau chùi xe sạch sẽ, gắn cả chìa khóa vào rồi mang ra nghĩa địa xe máy. Các thương gia Việt đã mang những chiếc xe bỏ bãi đó về Việt Nam bán lại cho những người có tiền. Chiếc Cub đó đã gắn bó với tôi nhiều năm. Tôi dùng nó để chở dầu lửa đi bán cho các máy xay lúa…
Giao thông Nhật Bản luôn dẫn đầu châu Á. Nhật Bản có trên 170 sân bay dân dụng. Điều này làm tôi liên tưởng đến số lượng sân bay ở Nam Việt Nam thời chiến tranh. Thời ấy, ở miền Nam, mỗi tỉnh rộng có khoảng 5 sân bay (chủ yếu là sân bay dã chiến dành cho trực thăng). Nhiều người dân cũng thường đi ké máy bay quân sự mỗi khi đi học xa, đi nhà thương, thăm người quen, đám cưới rước dâu… Khi đi lại giữa các tỉnh, người dân cũng thường chọn đường hàng không vì an toàn hơn đi đường bộ. Quay lại Nhật Bản, với số lượng sân bay lớn như vậy thì mỗi tỉnh cũng có nhiều sân bay. Và khi kiếm lý do để không gặp nhau, người ta không còn nói: đường xa cách trở, qua sông đắm đò… Nhật Bản có hằng hà vô số đảo nên việc giao thông đường thủy rất nhộn nhịp. Có khoảng trên 1000 cảng biển với nhiều hãng tàu vận tải container hàng đầu thế giới. Ngành đường sắt không có hiện tượng độc quyền kinh doanh. Hiện có hàng chục công ty đường sắt cạnh tranh nhau. Đặc biệt, có rất nhiều tuyến đường sắt cao tốc nổi tiếng về an toàn và đúng giờ. Chúng tôi được trải nghiệm đi tàu cao tốc Shinkansen với tốc độ 300km/h. Ở các ga tàu điện ngầm, hành khách rất đông đúc. Nhưng trên đường bộ rất ít người. Đường phố hầu như không có xe máy. Ô tô đi bên trái đường và lịch sự dừng lại khi có người qua đường. Ở đây, xe chủ động né người…
3. Văn hóa – nghệ thuật
Nhật Bản có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó, tín ngưỡng truyền thống lâu đời nhất là Thần đạo. Người dân khắp xứ sở Mặt trời Mọc thời xưa thờ tới 8 triệu vị thần. Hầu như không có hệ thống giáo lý nhất quán cho Thần đạo. Có khi, Thần đạo hòa nhập vào các tôn giáo du nhập sau này, đặc biệt là Phật giáo. Bởi vậy, khách du lịch nước ngoài đến Nhật Bản rất khó phân biệt cái nào là chùa, cái nào là đền. Ngoài ra, Nhật Bản còn có các tôn giáo du nhập như: Nho giáo, Lão giáo, Cơ Đốc giáo… Hiện nay, còn xuất hiện nhiều tôn giáo mới, đã được công nhận hoặc chưa được công nhận. Trong chuyến du lịch, chúng tôi có đi qua nhiều ngôi chùa, đền nhưng không rõ tên. Một phần do ghi chữ tượng hình, khó đọc. Một phần do chùa, đền nhiều quá, lại na ná như nhau nên cũng không cần phải phân biệt chi tiết. Theo lịch trình chính thì chúng tôi có đến một số ngôi chùa, đền nổi tiếng. Đó là chùa Asakusa Kannon, kiến trúc cổ kính, đậm chất Nhật Bản, có treo chiếc đèn lồng rất to ở cổng Sấm. Chùa Toji có bề dày lịch sử 1200 năm, nơi thích hợp để chụp hình trong trang phục Kimono (mượn miễn phí từ khách sạn nhà hàng Sunrise Suites gần đó, do người Việt quản lý). Chúng tôi đến thăm đền Fushimi Inari Taisha, còn gọi nôm na là đền Nghìn cổng. Thực ra, nó có tới 4.000 cổng màu đỏ cam dọc theo những con đường. Đây là một trong số 32.000 đền thờ Thần đạo của Nhật Bản. Ở đây, có rất nhiều bức tượng cáo, linh vật được xem là sứ giả của thần Inari (bảo trợ cho trồng trọt và kinh doanh). Được biết, ngoài việc thờ cáo, ở Nhật Bản còn có nhiều đền thờ quạ. Những con vật này không được người Việt Nam đánh giá cao.
Văn hóa Nhật Bản có ảnh hướng sâu sắc đến các nước châu Á. Thật khó có thể thống kê hết những thứ ở Việt Nam có nguồn gốc từ Nhật Bản. Về mỹ thuật, người Việt quá quen thuộc với tranh khắc gỗ theo phong cách Nhật Bản, nhất là tranh cá Koi (cá chép và hoa sen). Trong các cửa hàng Việt Nam thường có chú mèo thần tài vẫy tay chào khách với mong muốn buôn may bán đắt. Các loại đồ chơi Nhật cũng tràn ngập Việt Nam, nhất là các trò chơi game video. Còn karaoke thì vang lừng khắp các nẻo đường quê. Về văn học nghệ thuật, thiếu nhi Việt rất mê truyện tranh Doraemon và các truyện tranh siêu quậy khác. Nhiều phim truyện truyền hình Nhật có ảnh hưởng lớn đến đời sống người Việt: Ngôi sao may mắn, Oshin, Chuyện nữ tiếp viên hàng không… Trong đó, phim Oshin để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất. Phim này dài 297 tập, chiếu trên đài truyền hình Việt Nam năm 1994. Lúc đó, ở quê tôi, số nhà có tivi rất ít. Nhà tôi có mua một tivi trắng đen. Cứ mỗi tối, bật tivi và xoay màn hình ra sân cho cả xóm coi. Mọi người háo hức theo dõi cuộc đời của nhân vật Oshin, từ khi là cô bé nghèo khổ ở miền núi đến khi trở thành một doanh nhân thành đạt, làm chủ một chuỗi siêu thị ở Nhật Bản. Tác phẩm cũng giới thiệu bức tranh đa dạng về đất nước và con người Nhật Bản trong thế kỷ XX. Bộ phim này ảnh hưởng đến Việt Nam rất sâu sắc. Từ đó, ngôn ngữ ở miền Bắc có thêm từ Ô sin (người giúp việc trong gia đình). Ví dụ, “con Ô sin nhà tôi”, “đi làm Ô sin cho người ta”… Dùng từ Ô sin lịch sự hơn từ “con sen”, “người làm mướn”, vì Ô sin có thể trở thành bà chủ. Sau này, tôi còn tới thư viện mượn đọc cuốn sách Oshin và tóm tắt, ghi chép vào sổ tay tư liệu văn học. Trong nhiều bài viết, tôi cũng thường xuyên nhắc đến tác phẩm này. Tôi cũng đọc tiểu thuyết Rừng Na-Uy của Murakami Haruki. Tác phẩm chịu ảnh hưởng của phong trào giải phóng tình dục từ Âu – Mỹ lan tới Á Châu vào những năm 1960. Các nhân vật chống lại thói đạo đức giả và những cấm kỵ tình dục, làm hạn chế những nhu cầu chính đáng của con người. Ở Nam Việt Nam thời gian này có phong trào giải phóng tình dục nhưng không mạnh mẽ bằng. Trai gái vùng đô thị khó có được sự hưng phấn trọn vẹn khi đêm đêm nghe tiếng đại bác vọng vào thành phố. Cần nói thêm là ở Nam Việt Nam thời chiến tranh, sách báo của Nhật Bản được bày bán khá nhiều. Và trong văn học nghệ thuật miền Nam cũng có hẳn một “đề tài Nhật Bản”. Đầu thế kỷ XXI, thơ Hai kư được đưa vào nhà trường Việt Nam. Người ta cũng mở những cuộc thi sáng tác thơ Hai kư trên báo chí. Và hiện nay, có câu lạc bộ thơ Hai kư Việt ở Sài Gòn. Trong các ngày hội giao lưu văn hóa Việt – Nhật, có biểu diễn nhiều chương trình văn nghệ, giúp khán giả hiểu biết thêm về văn hóa Nhật Bản.
Nhật Bản nổi tiếng về lối sống cần kiệm và tối giản. Nhưng nó cũng chứa đựng nhiều điều nghịch lý trong lối sống đó. Nước Nhật nằm trong nhóm văn hóa dùng đũa. Các quán ăn Nhật có loại đũa tách đôi, chỉ dùng một lần rồi vứt. Điều này có vẻ nghịch lý với thói quen cần kiệm của người Nhật truyền thống. Mỗi bữa ăn của người Nhật có thể lên tới 10 món. Mỗi bữa có một chén cơm và vô số những chén khác đựng cá thịt và rau, củ nhỏ li ti. Có lẽ chỉ có những phụ nữ truyền thống không đi làm kiếm tiền, mà ở nhà chăm lo việc nội trợ mới có thời gian chăm chút cho những bữa ăn cầu kỳ như thế. Những người Nhật hiện đại, bận rộn thì ít cầu kỳ hơn nhưng mỗi bữa ăn cũng không dưới năm món. Điều này có vẻ nghịch lý so với lối sống tối giản của người Nhật. Nhưng có điều hợp lý là, trong bữa ăn hiện đại, người Nhật giảm bớt cơm và tăng các món ăn giàu chất dinh dưỡng. Có thể tiến tới kỷ nguyên trong bữa ăn không có cơm mà chỉ toàn là thịt cá, rau củ quả (giống như phương Tây). Nó khác với ở ta, có nhiều người khoe ăn một bữa bốn chén cơm nhưng thực ra là cơm chan nước mắm. Và hiện nay, ở Việt Nam, cũng có nhiều người đi trước thời đại là không ăn cơm mà chỉ ăn vặt (thức ăn mua trên mạng) và uống sữa bò.
Từ lâu, tôi cũng đã học tập và làm theo lối sống tối giản. Dĩ nhiên, đây là cách nói tương đối, vì đang thực tập chứ chưa phải là tín đồ chính thức của chủ nghĩa tối giản. Mỗi lần đi du lịch, chiếc va li của tôi nhỏ gọn, hầu như không mua sắm gì. Dưới trời nắng chang chang, tôi không đội mũ và cũng không cầm thứ gì trong tay. Căn nhà của tôi không nhiều đồ đạc, trừ mấy tủ sách. Tôi cũng đang tính đến chuyện tinh giản sách giấy bằng cách scan chuyển sang file PDF lưu trong máy tính. Mỗi bữa, tôi chỉ ăn một món, và chỉ nấu món nào nhanh gọn nhất. Đấy là nói thói quen ăn uống trong quá khứ và hiện đại, còn tương lai thì chưa biết có chịu thay đổi không. Ra đường, tôi chỉ có một chiếc xe máy rẻ tiền nhưng cũng sẵn sàng bỏ xe máy nếu hệ thống giao thông công cộng phát triển. Rồi tới lúc nào đấy, con người đi làm sẽ không mang theo thứ gì trong tay. Mọi tài liệu đã được lưu trữ trên đám mây điện tử hoặc trong thẻ nhớ và các trang mạng cá nhân. Cái máy tính đã có sẵn ở công ty rồi, chỉ lần lắp thẻ nhớ hoặc nối mạng là làm việc được. Có thể mở điện thoại ra để xử lý mọi thứ. Lúc ấy… thật là tối giản.
4. Xã hội – con người
Xã hội Nhật Bản đang đối phó với nhiều vấn đề khó khăn về xã hội. Trước hết là vấn đề dân số ngày càng già. Tuổi thọ trung bình của người dân Nhật Bản vào loại cao nhất thế giới (81 tuổi). Nhiều người già vẫn làm việc. Có thể họ không thiếu tiền nhưng vẫn thích làm để vận động cơ thể và để không bị người khác coi thường. Ở Nhật, không có quy định khống chế tuổi buộc phải về hưu và cũng không trả lương dựa vào ngày tháng năm sinh. Ai muốn làm lúc nào thì làm, muốn nghỉ lúc nào thì nghỉ, lương thỏa thuận giữa chủ và thợ. Về già, họ sống bằng tiền tiết kiệm gửi ngân hàng và các khoản trợ cấp xã hội. Nhiều người có khoản tiền khổng lồ gửi ngân hàng nhưng không viết di chúc nên khi chết, số tiền đó tồn đọng, không biết xử lý ra sao. Trên các trang mạng Việt Nam, ta thường thấy các tiêu đề như: “Có những người Nhật chết trên đống tiền mà không một ai biết”, “Tài sản vô thừa nhận ở Nhật tăng kỷ lục”, “Người già neo đơn ở Nhật để lại tài sản ‘khủng’ cho nhà nước”, “Nhật Bản: Gần 22.000 tỷ từ tài sản thừa kế không có người nhận đã được sung vào kho bạc nhà nước”, “Nhật Bản: Hơn 3.300 tỷ USD tài sản có nguy cơ ‘đóng băng’ vì chủ nhân mất trí nhớ”, “Ông bố Nhật quyết tiêu sạch 13 tỉ trước khi chết” (không để lại tài sản cho con)… Ngoài số tiền bạc vô chủ, Nhật Bản còn có nhiều ngôi nhà bỏ hoang vì chủ nhân đã qua đời mà không ai thừa kế. Nhiều người già chết đã lâu mà hàng xóm không biết, chỉ có nhân viên giao báo chí, tính tiền điện nước phát hiện ra. Lối sống này có lẽ rất lạ với người Việt Nam hiện nay. Nhưng nó sẽ là tất yếu trong một xã hội hiện đại mai sau.
Thanh niên Nhật cũng ngại đăng ký kết hôn. Đây cũng là khuynh hướng chung của xã hội hiện đại. Nó khác với xã hội cổ điển suốt cả đời nhộn nhịp với việc thách cưới, kết hôn, sinh đẻ, bạo hành gia đình, ăn đám giỗ… Vốn quen với lối sống cộng đồng, người Việt cổ nhìn những người độc thân bằng con mắt khinh thường: “Chừng nào lấy vợ ?”, “Sao lớn tuổi rồi mà chưa lấy chồng ?”, “Sao không kiếm ông nào đấy ở chung cho vui ?”, “Con mà không lập gia đình thì xóm làng, dòng họ cười khinh, nhà ta không có người nối dõi tông đường”… Đến khi lập gia đình rồi mà không sinh con hoặc sinh ít thì cũng bị xóm làng chế giễu: “Đẻ mấy đứa rồi ? Chỉ một đứa nha ? Sao không đẻ chục đứa con cho vui nhà vui cửa ?”. Theo quan niệm xưa, đẻ con càng nhiều thì gia đình càng có thế mạnh trong các cuộc đánh lộn với các gia đình khác. Về già, cha mẹ cũng có chỗ nương tựa; khi chết, có người làm đám giỗ. Bởi vậy, suốt đời, cha mẹ phải nhịn ăn, nhịn mặc để dành tiền cho con làm đám giỗ mình. Cả đời, con người cứ sống cho người khác, còn bản thân mình không có tự do, hạnh phúc. Con người hiện đại thích cuộc sống tự do. Nhiều người quan niệm hôn nhân là ràng buộc, ký giấy kết hôn giống như ký bản quy chế… chung thân. Thanh niên Nhật không nhất thiết phải tìm sự sung sướng trong hôn nhân vì đã có rất nhiều dịch vụ giải trí đáp ứng mọi nhu cầu. Họ có thể sống như bạn tình chứ không sống như vợ chồng. Họ cũng không cần đẻ con vì về già, sẽ đến viện dưỡng lão chứ không cần năn nỉ con cháu chăm sóc mình. Mà con cháu cũng chưa chắc giúp đỡ cha mẹ được vì điều kiện sinh sống ở xa, thời gian không cho phép, cũng không thể nhờ vợ hoặc chồng chăm sóc cha mẹ ruột của mình. Sau này, Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển, các lão nông cũng tập tành làm quen việc chống gậy vô viện dưỡng lão.
Xã hội Nhật cũng đang đối phó với vấn nạn tự sát của thanh niên. Nhật là nước có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới. Có thể tựu trung vào mấy lý do: Người Nhật thường có lối sống thâm trầm, ít nói và sâu sắc. Để giải tỏa những búc xúc, thay vì đi kể lể ầm ĩ cho xóm làng nghe (như người Việt) thì họ chịu đựng và im lặng hành động… Trong quá khứ, người Nhật cũng thường ca ngợi hành động mổ bụng tự sát theo tinh thần võ sĩ đạo. Trong thế chiến II, nhiều binh sĩ Nhật cũng chọn cái chết cảm tử. Sau khi Nhật bại trận, có những người nổi tiếng đã tự sát như Bộ trưởng Chiến tranh Korechika Anami, Phó đô đốc Hải quân Takijiro Onishi… Có phong trào tự sát của hàng loạt sĩ quan binh lính Nhật. Trong thời bình, người ta cũng tự sát vì nhiều nguyên nhân khác. Việc học hành thi cử quá áp lực (do cha mẹ áp đặt) cũng làm cho một số người trẻ chán sống. Các công ty Nhật có tính kỷ luật cao, nhiều công nhân không chịu nổi sức ép công việc cũng đâm ra nghĩ vẩn. Số người tự tử thường là nam giới. Theo quan niệm truyền thống của xứ Phù Tang, người chồng là ông vua trong gia đình. Người vợ giống như nô tỳ, hầu hạ chồng hết mực. Bởi vậy có câu: “Ở nhà Tây, ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật”. Nhưng để được vợ hầu hạ thì người chồng phải làm ra nhiều tiền. Nhiều anh chồng mất việc làm nhưng sợ vợ khinh thường. Nên mỗi sáng, anh ta vẫn phải ra khỏi nhà giả bộ đi làm. Nhưng đi đâu cho hết những ngày dài ? Thế là anh ta tìm đến “Rừng tự sát”. Ở Nhật, có nhiều khu rừng tự sát. Một số khác không chọn con đường tự sát mà chọn cách sống cách ly với xã hội, không giao tiếp với ai. Họ xem người khác (tha nhân) là nguyên nhân gây ra bao sự rắc rối, khổ đau. Nói như nhà triết học hiện sinh Jean-Paul Sartre: “Địa ngục chính là tha nhân”.
Người Việt sinh sống ở khắp thế giới nhưng đông nhất là ở Mỹ (giàu nhất phương Tây), nhì là ở Nhật (giàu nhất phương Đông). Người Việt Nam đến Nhật vào nhiều thời điểm khác nhau. Làn sóng sang Nhật lần đầu tiên là giai đoạn 1975 – 1985, chủ yếu là người Việt miền Nam. Và hiện nay, người Việt du nhập vào Nhật ngày càng đông. Trong số này, đông nhất là những người sang Nhật thuộc diện xuất khẩu lao động, chủ yếu là người Việt ở miền Bắc. Ngoài ra, số lượng sinh viên, trí thức, kinh doanh, nội trợ người Việt sống ở Nhật cũng rất đông. Trong số người nước ngoài sống ở Nhật Bản, người Việt Nam xếp hàng thứ hai, sau người Trung Quốc. Đại đa số người Việt thích nghi tốt với môi trường làm việc có tính kỷ luật cao. Họ làm việc chăm chỉ, nói năng nhỏ nhẹ, lịch sự với khách. Bên cạnh đó, ở Nhật, Hàn, Úc… cũng có một vài “người Việt xấu xí” đã “làm rầu nồi canh”. Đa số những người này đến từ một vài tỉnh của Việt Nam. Họ tới nước tư bản mà cứ nghĩ “tài sản thuộc sở hữu toàn dân”, mình có quyền lượm lặt mọi thứ. Họ vẫn giữ kiểu cách chân lấm tay bùn, nói năng ồn ào, chen lấn lộn xộn khi bước vào sân bay quốc tế lộng lẫy như cung điện. Người nông dân Nhật đã tiếp cận với nền giáo dục văn minh khoảng 150 năm. Đoàn chúng tôi đến một trang trại trồng trái cây, chủ yếu là đào và nho. Người trông coi trại mời gọi khách du lịch đến ăn trái cây miễn phí. Điều đáng ngạc nhiên là họ mua sẵn rất nhiều giỏ nhựa để cho khách hái trái cây bỏ vào đấy. Họ nhiệt tình dẫn khách đi hái trái cây. Rồi hướng dẫn khách rửa trái cây, mời ngồi vào bàn ăn, dưới giàn nho xanh mát. Kể ra, cái việc mời khách ăn miễn phí cũng tốn nhiều công của chẳng kém gì việc trồng cây. Trước đó, tôi cũng nghe một du học sinh kể rằng, có bác nông dân bán rau không hết nên đã mang tới ký túc xá để tặng sinh viên. Người Nhật trước khi vứt cái gì đó, họ cũng sửa chữa lại cho tốt, lau chùi cho sạch đẹp rồi mới mang đi bỏ. Họ hy vọng rằng có ai đó cần thì vẫn tiếp tục dùng được. Cũng nhờ có thói quen tốt đó mà Việt Nam mới có phong trào sử dụng xe máy Nhật bỏ bãi. Hiện nay, nhiều người Sài Gòn cũng đã có thói quen phục vụ cộng đồng: tặng cơm nước miễn phí, tặng quần áo miễn phí… Ai cần thì cứ tới lấy tự nhiên, ai dư thì mang ra sảnh đường tặng lại cho người khác. Trước khi tặng quần áo cũ, họ cũng giặt sạch sẽ.
Tôi có quen nhiều người từng sống ở Nhật hoặc từ Nhật sang học tập, làm việc ở Việt Nam. Tôi xin kể về một nông dân chung xóm với gia đình tôi ở quê. Ông ra nước ngoài vào đầu những năm 1980, thời Việt Nam còn đóng cửa. Không rõ con thuyền chở ông lênh đênh như thế nào mà trôi dạt đến tận xứ Mặt Trời Mọc. Ông làm công nhân cho một hãng sản xuất ô tô. Khi đã có của ăn của để, ông gửi tiền về cho gia đình. Những năm 1990, gia đình ông đổi đời. Em của ông (bạn của tôi) chi tiêu phóng khoáng, bao đãi các cuộc nhậu. Nhưng đến một ngày nọ, dòng tiền từ Nhật về bị ngưng chảy. Đó là lúc ông chú hàng xóm của tôi nghỉ việc vì đã lớn tuổi. Những năm cuối đời, ông quay về sống ở Việt Nam. Căn nhà ông trở nên nhộn nhịp. Người già, trẻ con, đàn ông, đàn bà thường tụ tập lại để nghe ông kể những câu chuyện lạ ở xứ Phù Tang. Tôi cũng có vài buổi ngồi nghe và nhớ mãi chi tiết: Hằng năm, công ty sản xuất ô tô Nhật đều tổ chức cho công nhân đi du lịch. Công ty bắt buộc công nhân phải đi du lịch để tránh trình trạng căng thẳng thần kinh mà dẫn đến những hành động tiêu cực. Nghe kể vậy, mấy bà hàng xóm thèm thuồng mơ ước có ngày bị ai đó bắt đi du lịch. Ông kể chuyện rất dí dỏm, hài hước, nên chuyện vui hay buồn cũng đều làm cho người nghe bật cười. Bây giờ, ông đã đi xa, mang theo cả kho tàng chuyện lặt vặt về Nhựt Bổn.
Tôi đi du lịch Nhật Bản trong một tình trạng hơi lo. Tối 28 / 8 / 2026, tôi có mặt ở sân bay Tân Sơn Nhất. Hình như biết tôi sắp sang Nhật, Facebook cho hiện ra rất nhiều thông tin đang xảy ra ở Nhật: “Động đất khiến nhiều tòa nhà đổ sập tại Nhật Bản”, “Động đất gây cháy, sập đổ nhiều tòa nhà khiến ít nhất 13 người thiệt mạng tại Nhật Bản”, “Nóng: nổ siêu thị Aeon Nhật Bản sau trận động đất 7,1 độ, nhiều người thiệt mạng”… Sau đó, khoảng nửa tiếng đồng hồ, lại xuất hiện tin siêu bão: “Dự báo của Cơ quan khí tượng Nhật Bản (JMA) cho thấy gió bão Dolphin mạnh lên rất nhanh, có thể đạt cấp siêu bão (cấp 16) trong hai ngày tới.”… Thế là trong thời gian tôi đi Nhật, có thể sẽ xảy ra hai sự kiện lớn: động đất mạnh và siêu bão. Nhưng thực tế thì, những nơi tôi đi qua đã không xảy hai loại thiên tai này. Người Nhật Bản đã quen với động đất và bão tố. Cũng như người Hàn Quốc đã quen với những tin tức đe dọa nổ bom hạt nhân. Và người Việt Nam đã quen với những tin tức về tai nạn giao thông và ung thư. Dù sống ở đâu cũng có những cái đáng để lo. Và để xóa bớt những nỗi lo trong cuộc sống, thỉnh thoảng, chúng ta cũng nên đi vi vu đây đó.
Sài Gòn, tháng 8 – 2026
Phạm Ngọc Hiền
Mời xem hình: https://phamngochien.com.vn/hinh-anh-du-dich-nhat-ban-2026-pham-ngoc-hien/
.
